Tìm kiếm    
   
Tin hoạt động
Chung tay, góp sức chăm sóc sức khỏe và cải thiện điều kiện sống cho nạn nhân chất độc da cam

ừ năm 1961-1971, quân đội Mỹ đã sử dụng hơn 100.000 tấn chất độc hoá học với tên gọi “chất khai quang, diệt cỏ và làm rụng lá” để rải xuống các chiến trường miền Nam Việt Nam, trong đó có 50 triệu lít chất da cam chứa khoảng 360 kg dioxin. Dioxin là chất cực kỳ độc hại mà con người đã tìm ra cho đến nay: với nồng độ một phần tỷ gam, dioxin có thể gây ung thư; suy giảm miễn dịch; các tai biến sinh sản và dị tật bẩm sinh cho các thế hệ; chất này còn rất nguy hiểm bởi tính bền vững của nó: thời gian bán huỷ trong đất là 100 năm, trong các mô mỡ của người từ 7 - 11 năm. Mặc dù chiến tranh đã kết thúc 36 năm nhưng hậu quả còn rất nặng nề: 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm chất da cam, trong đó có hơn 3 triệu nạn nhân chất độc da cam (NN.CĐ.DC) và khoảng 150.000 trẻ em bị dị tật bẩm sinh.Bản thân nạn nhân cũng như gia đình họ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống hàng ngày vì sự nghèo đói và bệnh tật. Nghèo vì không có vốn, lại thiếu phương tiện sản xuất. Cho nên họ luôn mong muốn được chăm sóc về sức khỏe như: khám chữa bệnh, phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng và được hỗ trợ vốn, tư vấn kỹ thuật để có điều kiện sản xuất phát triển kinh tế và cơ hội việc làm như: chăn nuôi, trồng trọt, làm dịch vụ, sản xuất hàng hóa, buôn bán nhỏ...để nuôi sống bản thân cũng như gia đình họ.

Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách, chế độ hỗ trợ cho đối tượng này như: Tháng 4/1998, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 74/1998/QĐ-TTg về điều tra, xác định nạn nhân bị hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam và tháng 02/2000, đã ký Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg về một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học.

Ngày 29/6/2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng (số 26/2005/PL- UBTVQH11) và Chính phủ đã có Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 quy định người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người có công với cách mạng. Theo đó, ngoài chế độ trợ cấp, các đối tượng này được hưởng các ưu đãi khác như bảo hiểm Y tế, điều dưỡng phục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng lao động; cấp phương tiển trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình...con đẻ của họ được hưởng trợ cấp hàng tháng và các chế độ ưu đãi trong giáo dục và đào tạo.

Căn cứ Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT ngày 20/02/2008 của Bộ Y tế ban hành danh mục 17 bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn lập hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng. Theo đó, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, được Hội đồng giám định Y khoa cấp tỉnh trở lên các định mắc 1 trong 17 bệnh tật, dị dạng, dị tật do Bộ Y tế quy định thì được giải quyết chế độ; tỷ lệ suy giảm khả nang lao động là căn cứ để xếp hưởng trợ cấp ở mức 1 (từ 81% trở lên), hoặc mức 2 (từ 61- 80%).

Có thể nói rằng nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách đối với nạn NN.CĐ.DC; hàng năm, Chính phủ đã chi khoảng 800 tỷ đồng cho 175.000/600.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị ảnh hưởng của chất độc hóa học đã được hưởng chế độ ưu đãi (chiếm 29,2%).

Tuy nhiên, chính sách này vẫn phải tiếp tục hoàn thiện vì việc ban hành các chế độ, chính sách cho nạn nhân chất độc da cam còn bất cập, mức trợ cấp còn thấp (mới được trợ cấp gần 30%). Thủ tục xét trợ cấp còn phức tạp. Con nhiều nạn nhân bị hậu quả chất độc da cam nằm ngoài diện thụ hưởng chính sách. Đến nay vẫn chưa có chính sách, giải pháp hỗ trợ cho những người đã và đang công tác, sinh sống tại các vùng bị phun rải chất độc hóa học trước đây, cũng bị bệnh hiểm nghèo và sinh con dị dạng, dị tật hoặc có nguy cơ cao nhiễm chất độc da cam sau 30/4/1975, kể cả các hộ dân đang sinh sống ở những vùng được xác định là ”điểm nóng”; chưa có chế độ trợ cấp cho thế hệ cháu (F2) của nạn nhân chất độc da cam.


Nhiều đối tượng đã nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước nhưng bên cạnh đó còn nhiều đối tượng vẫn chưa được hưởng chế độ, cuộc sống hàng ngày của họ ngày càng khó khăn vì phải luôn chống lại bệnh tật, khó khăn và nghèo đói...

Với thực tế trên, cần phải có cơ chế chính sách đồng bộ và sự chung tay, góp sức của các ngành, các cấp, các tổ chức trong và ngoài nước, các nhà hảo tâm, cùng cộng đồng xã hội, chăm sóc sức khỏe và cải thiền điều kiện sống cho nạn nhân chất độc da cam vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Đòi hỏi sự hỗ trợ của nạn nhân chất độc da cam phải toàn diện hơn nữa, phù hợp vớihoàn cảnh gia đình của nạn nhân.

Ngày 27/3/1998, Thường vụ Bộ Chính trị đã đồng ý chủ trương thành lập Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC và ngày 09/6/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 105/1998/QĐ-TTg cho phép thành lập Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC trực thuộc Hội (Chữ thập đỏ) CTĐ Việt Nam. Tiếp theo đó, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) đã ký Quyết định phê duyệt Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư Hướng dẫn quản lý tài chính và sử dụng Quỹ.

Trong quá trình hoạt động, hệ thống Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC tiếp tục nhận được sự ủng hộ của Đảng và Nhà nước: Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đồng ý với đề nghị của Hội CTĐ Việt Nam lấy ngày 10/8 hàng năm là “Ngày vì NN.CĐ.DC; tại Hội nghị Tổng kết 10 năm xây dựng và phát triển của Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã có ý kiến chỉ đạo. Theo đó, “Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC thuộc Hội CTĐ Việt Nam cần củng cố, phát triển tổ chức, nhất là Quỹ ở cơ sở... Chính phủ sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế và chính sách, hỗ trợ nguồn lực để Hội CTĐ Việt Nam làm tốt hơn nữa công tác giúp đỡ NN.CĐ.DC.

Một số kết quả đạt được của các cấp Hội trong việc vận động và cứu trợ NN.CĐ.DC hơn 13 năm qua

Trong quá trình hoạt động, các cấp Hội CTĐ luôn bám sát chức năng, nhiệm vụ đã được Chính phủ quy định tại Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC và đã đạt được một số kết quả quan trọng sau đây:

Hệ thống Quỹ đã được hình thành, phát triển rộng khắp theo hệ thống 4 cấp (TW, tỉnh/thành, quận/huyện, xã/phường) và gắn liền với các hoạt động của Hội CTĐ Việt Nam.

Đến đầu năm 2007, đã có 62/63 tỉnh, thành; hầu hết các quận, huyện và nhiều xã, phường đã thành lập Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC trực thuộc Hội CTĐ (tỉnh Tiền Giang đang hoàn tất thủ tục để thành lập Quỹ trong năm 2010). Đảng đoàn và Thường trực TW Hội đã phối hợp với cấp uỷ, chính quyền các cấp chỉ đạo lập Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC tại các cấp Hội và cử cán bộ Hội có uy tín trực tiếp lãnh đạo và điều hành Quỹ. Chủ tịch Hội đồng Quản lý quỹ cấp tỉnh thường do đồng chí Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đảm nhiệm.

Nhiều nơi đã thành lập được các trung tâm nuôi dưỡng, chăm sóc và phục hồi chức năng cho các NN.CĐ.DC như: Trung tâm Nhân đạo Hồng Đức, Trung tâm Nhân đạo Hoà bình trực thuộc TW Hội; các trung tâm hỗ trợ nạn nhân chiến tranh và người khuyết tật nghèo trực thuộc tỉnh Hội như: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, thành phố Hồ Chí Minh...

Công tác tuyên truyền, vận động trong và ngoài nước nhằm gây quỹ giúp đỡ NN.CĐ.DC được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú và đạt hiệu quả cao, năm sau cao hơn năm trước.

Từ tháng 7/1998 đến hết tháng 12/2010 các cấp Hội đã vận động thông qua hệ thống Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC được 537 tỷ 320 triệu đồng, trong đó: Quỹ TW đạt 58,1 tỷ đồng (chưa tính 25 tỷ đồng do Quỹ vận động được và chuyển thẳng đến các địa phương); Quỹ các tỉnh, thành Hội đạt 486 tỷ 220 triệu đồng; Chính phủ cấp thông qua chương trình, dự án 20 tỷ 900 triệu đồng.

Nổi bật nhất là Hội CTĐ Việt Nam phát động và thực hiện 2 phong trào lớn hàng năm là “Tết vì người nghèo và NN.CĐ.DC” (bắt đầu từ năm 1999) và “Tháng hành động vì NN.CĐ.DC” (bắt đầu từ năm 2004).

Qua 13 năm thực hiện Phong trào “Tết vì người nghèo và NN.CĐ.DC”, các cấp Hội đã vận động và trao tặng số tiền, hàng với tổng trị giá 556 tỷ 751 triệu đồng (bình quân 55 tỷ đồng/năm) hỗ trợ 5.181.643 lượt hộ nghèo và NN.CĐ.DC, trong đó có 393.386 hộ có NN.CĐ.DC. Nếu giai đoạn 2001-2006, mỗi năm vận động được từ 11,7 đến 64 tỷ đồng, thì từ năm 2007-2010, mỗi năm vận động được từ 137 đến gần 150 tỷ đồng.

Trong năm 2010, thông qua "Tháng hành động vì NN.CĐ.DC”, các cấp Hội trong cả nước đã vận động được 56 tỷ 805 triệu đồng, trợ giúp 245.849 lượt nạn nhân; tính chung trong 3 năm 2008- 2010, toàn Hội đã vận động trong Tháng hành động đạt trên 117 tỷ 205 triệu đồng, hỗ trợ cho gần 434.849 lượt nạn nhân. Dẫn đầu trong việc vận động gây Quỹ là Hội Chữ thập đỏ các tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hải Phòng... đạt được từ 20 tỷ đến 34 tỷ đồng; tỉnh thuần nông như Hưng Yên cũng đạt 9,702 tỷ đồng; Đăk Nông là tỉnh mới tái lập nhưng cũng đạt 7,138 tỷ đồng; Báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh giúp đỡ NN.CĐ.DC thông qua Quỹ của TW Hội đạt gần 5 tỷ đồng; Hội Chữ thập đỏ Công ty Cao su Dầu Tiếng (Bình Dương) đạt 400 triệu đồng.

Các cấp Hội CTĐ Việt Nam còn chú trọng tuyên truyền trong Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế về hậu quả của chất độc da cam/dioxin thông qua các hội nghị quốc tế, khu vực và các chuyến thăm quan, chia sẻ kinh nghiệm của các đoàn lãnh đạo giữa các Hội quốc gia. Đặc biệt, Hội nghị 45 Hội quốc gia khu vực châu Á-Thái Bình dương và vùng lãnh thổ (tháng 11/1998) tại Hà Nội và Hội nghị 14 nước (tháng 7/2002) tại Stockholm, Thuỵ điển đều có Tuyên ngôn ủng hộ NN.CĐ.DC ở Việt Nam. Nổi bật trong các tổ chức, cá nhân ủng hộ nạn nhân, đó là: Hội CTĐ Mỹ và Thuỵ Sỹ; Hội CTĐ Tây Ban Nha; Quỹ Ford; Quỹ hàn gắn vết thương chiến tranh tại Mỹ; Hội hữu nghị Việt – Anh...

Ngoài ra, các cấp Hội còn chú trọng tuyên truyền ủng hộ NN.CĐ.DC trên các phương tiện thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, báo viết) của TW và địa phương; tổ chức biểu diễn nghệ thuật, triển lãm tranh, đi bộ gây quỹ, quay xổ số... Với nguồn lực vận động được và bằng nhiều hoạt động đa dạng, phong phú mang tính phát triển bền vững, các cấp Hội CTĐ đã hỗ trợ kịp thời nạ nhân chất độc da cam vượt qua khó khăn, từng bước vươn lên hoà nhập cộng đồng.

Về chăm sóc sức khỏe của nạn nhân chất độc da cam:

Hầu hết các NN.CĐ.DC là những người nghèo, mang trong mình nhiều bệnh tật hiểm nguy hoặc bị khuyết tật và các bệnh mãn tính, cần phải điều trị lâu dài nhưng không có khả năng chi trả. Vì vậy, Hội đã phối hợp chặt chẽ với các chuyên gia y tế tiến hành phẫu thuật những dị tật bẩm sinh ở đầu, mặt, cổ, tứ chi; sau đó tiến hành phục hồi chức năng vận động cho họ tại các trung tâm hoặc cộng đồng với sự giúp đỡ của hội viên và tình nguyện viên CTĐ.

Với mạng lưới phòng khám, chữa bệnh nhân đạo rộng khắp và đội ngũ thầy thuốc tình nguyện nhiệt huyết, các cấp Hội đã kịp thời khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nạn nhân, đồng thời cử cán bộ, hội viên có chuyên môn, nghiệp vụ theo dõi, giúp đỡ và tư vấn nhằm tăng cường sức khỏe và phòng, ngừa thai nhi sinh ra bị dị tật.

Về việc cải thiện điều kiện sống cho nạn nhân chất độc da cam

Cùng với nhiều bệnh tật hiểm nghèo, các NN.CĐ.DC và gia đình họ có cuộc sống rất khó khăn, trình độ học vấn thấp. Vì vậy, ngoài việc thăm, tặng quà và bảo trợ thường xuyên, các cấp Hội rất chú trọng giúp đỡ các nạn nhân có thu nhập, vượt qua đói nghèo, ổn định đời sống, vươn lên hòa nhập cộng đồng bằng nhiều hình thức mang tính phát triển và bền vững tại cộng đồng như: tư vấn, hỗ trợ phát triển kinh tế thông qua nhóm tự giúp của các gia đình hội viên CTĐ; dạy nghề, tạo việc làm; vay vốn chăn nuôi, phát triển sản xuất và các dịch vụ tăng thu nhập; cấp nhà CTĐ... Trong 13 năm qua, các cấp Hội đã trợ giúp khoảng trên 1 triệu NN.CĐ.DC, trong đó có gần 750.000 nạn nhân đặc biệt khó khăn, bao gồm:

Bảo trợ thường xuyên: 152.347 người; Khám, chữa bệnh:520.358 lượt người; Phẫu thuật, phục hồi chức năng: 17.826 người; Cấp xe lăn & xe lắc: 25.769 người; Dạy nghề, tạo việc làm: 8.750 người; Cấp học bổng học sinh, sinh viên 19.390 em; Hỗ trợ vốn sản xuất: 91.003 hộ; Xây dựng nhà tình thương; 2.753 hộ; Cấp giếng nước sạch: 223.349 hộ 891.459 lượt nạn nhân được tặng quà..

Do đạt được những kết quả chủ yếu nêu trên, Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC thuộc Hội CTĐ Việt Nam vinh dự đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen và Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

Đặc biệt, với mô hình của dự án “Giúp đỡ NN.CĐ.DC các tỉnh Tây Nguyên và Tây Ninh giai đoạn 2006-2010” do Chính phủ hỗ trợ kinh phí, bao gồm các hoạt động chủ yếu mang tính phát triển bền vững như: “khám phân loại nạn nhân”; “phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng”; “dạy nghề, tạo việc làm cho nạn nhân”; “hỗ trợ vốn và phương tiện sản xuất, tăng thu nhập cho gia đình nạn nhân” đã được Tổ chức Đông Tây hội ngộ và VTV4 Đài Truyền hình Việt Nam lựa chọn là 1 trong 10 mô hình tốt nhất ở Việt Nam về việc giúp đỡ người khuyết tật và NN.CĐ.DC 2 năm 2009-2010. Đến nay Chương trình “Cuộc sống vẫn tươi đẹp” đã thu hút đông đảo khán giả truyền hình trong và ngoài nước ủng hộ nguồn lực cho người khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam thực hiện các chương trình dự án phát triển kinh tế như: “Ngân hàng bò” tại các huyện nghèo thông qua 5.000 địa chỉ được đăng tải trên trang website: http://cuocsongvantuoidep.vn

Một số kiến nghị và đề xuất với Đảng và Nhà nước

Để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được trong việc vận động và trợ giúp NN.CĐ.DC trong thời gian tới, Hội CTĐ Việt Nam trân trọng kiến nghị, đề xuất với Đảng và Nhà nước một số nội dung sau đây:

Một là, NN.CĐ.DC là một vấn đề xã hội bức xúc, không một bộ, ngành hay một tổ chức xã hội nào có thể tự mình giải quyết được mà phải huy động toàn xã hội tham gia với vai trò nòng cốt của cơ quan Nhà nước.

Hai là, để giải quyết vấn đề NN.CĐ.DC một cách bền vững, cần quan tâm giải quyết cái gốc của nó là làm thế nào hạn chế tới mức thấp nhất việc sinh ra các thế hệ con, cháu bị dị tật bẩm sinh nhằm nâng cao chất lượng dân số. Do vậy, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục kết hợp với các biện pháp tư vấn và hỗ trợ sinh sản đối với các cặp vợ chồng có các dấu hiệu bị ảnh hưởng của chất da cam. Nên sớm thành lập Trung tâm tư vấn Da cam và sức khỏe sinh sản

Ba là, Nhà nước tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để Hội CTĐ Việt Nam thực hiện tốt chức năng và 4 nhiệm vụ của Quỹ Bảo trợ NN.CĐ.DC, đã được quy định tại Quyết định số 105/1998/QĐ-TTg ngày 09/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ.

Bốn là, Nhà nước tạo điều kiện để Hội CTĐ Việt Nam tiếp tục tham gia, phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh – Xã hội, Bộ Y tế, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam,… nghiên cứu, đề xuất, hoàn thiện chính sách hỗ trợ NN.CĐ.DC không những đối với những người tham gia kháng chiến (và con, cháu của họ) mà còn đối với những người dân thường (và con, cháu của họ) bị ảnh hưởng của chất độc da cam trong chiến tranh.

Năm là, đề nghị Chính phủ tiếp tục cấp kinh phí cho Hội CTĐ Việt Nam để mở rộng và nhân rộng mô hình sang giai đoạn 2011-2015 dự án “Giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam các tỉnh Tây Nguyên và Tây Ninh” đến các tỉnh đang có nhiều NN.CĐ.DC trong toàn quốc như: Thái Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Đồng Nai và một số địa phương khác.

Ngày 01/08/2011
Thanh Xuân (CTV) 
In trangGửi mail[ Đầu trang ][ Trở lại ]
 
 
Phản hồi cho bài viết
Họ tên:
Email:
Câu hỏi ký tự trong hình:
Nội dung:(Vui lòng viết bằng Tiếng việt có dấu)
Liên kết
Website liên kết khác
Số người trực tuyến: 94
Số lượt truy cập: 194935
Trang chủ|Diễn đàn|Đối thoại|Liên hệ|Sơ đồ site|English
HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM
Địa chỉ: 82 Nguyễn Du, Hà Nội. Điện thoại: (844)38224030 - 38263703 - Fax: (844) 39424285. Email: vnrchq@netnam.org.vn
Tên tài khoản: TRUNG ƯƠNG HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM; Số tài khoản: 12010000043522 VNĐ, 12010370036438 USD
Tại: Sở Giao dịch I - Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam